• Phone: 0235.3851.429
  • Hotline: 19009095
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Tập san Y học

Đánh giá, tiếp cận ban đầu và xử trí bệnh nhân nghi ngờ sốc (p.2)

  • PDF.

Bs Nguyễn Tấn Hạnh - Khoa ICU

Nguyên tắc hồi sức ban đầu

Hồi sức dịch: là lựa chọn điều trị đầu tiên, tất cả bệnh nhân sốc nên được “test” dịch ban đầu. Đánh giá đáp ứng với dịch dựa trên các thông số lâm sàng như huyết áp động mạch, lượng nước tiểu, áp lực đổ đầy tim và cung lượng tim. Lượng dịch cần thiết để duy trì tưới máu mô rất thay đổi, việc bù dịch quá mức trong khi không có sự đáp ứng trên lâm sàng có thể dẫn tới phù phổi và làm tăng áp lực nội sọ. Loại dịch thường được lựa chọn là Natriclolua 0,9% vì giá thành rẻ cũng như có hiệu quả tương đương so với các loại dịch khác. Các sản phẩm máu nên được truyền cho những bệnh nhân thiếu máu hay đang mất máu. Những bệnh nhân trẻ, được hồi sức đầy đủ thường dung nạp với HCT từ 20-25% trong khi những bệnh nhân già, xơ vữa động mạch hay những người có biểu hiện chuyển hóa kỵ khí cần đưa HCT lên 30% hoặc cao hơn để có thể cung cấp oxy đầy đủ cho mô.

danhgiaso5

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 01 Tháng 9 2019 09:07

Huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân Chăm sóc tích cực

  • PDF.

Bs Đinh Thị Hằng Nga - Khoa ICU

1. Định nghĩa

Huyết khối tĩnh mạch (VTE - venous thromboembolism) bao gồm: thuyên tắc phổi (PE- pulmonary embolism) và huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT- deep venous thrombosis).

Có thể gọi huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi là 2 biểu hiện của cùng một bệnh vì huyết khối tĩnh mạch sâu hình thành trước trong các tĩnh mạch sâu ở chân, sau đó các phần tử từ huyết khối tĩnh mạch sâu bong ra, đi theo tĩnh mạch chủ dưới vào buồng tim phải và làm tắc một nhánh động mạch phổi gây ra thuyên tắc phổi. Các chuyên gia thường xem thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch là sát thủ thầm lặng vì hơn 80% bệnh nhân không có triệu chứng. Khoảng 10% các ca thuyên tắc phổi có triệu chứng chết ngay trong vòng 1 giờ đầu và đa số bệnh nhân chết vì thuyên tắc phổi lại không có triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch sâu trước đó. Ghi nhận trong thập niên 1990 cho thấy hơn 70% các ca tử vong do thuyên tắc phổi chỉ được xác định khi mổ tử thi. Ở những người sống sót qua giai đoạn cấp, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch có thể để lại 2 di chứng. Di chứng thứ nhất là hội chứng sau huyết khối (post-thrombotic syndrome) có biểu hiện ở mức độ nặng là phù, loét và sạm da bên chân bị huyết khối tĩnh mạch sâu. Tần suất hội chứng sau huyết khối mức độ nặng khoảng 5-10%. Di chứng thứ hai là tăng áp phổi mạn có nguồn gốc thuyên tắc huyết khối (chronic thromboembolic pulmonary hypertension), có tần suất dồn khoảng 4% sau 2 năm. Đây là một bệnh lý có ảnh hưởng rất xấu đến chất lượng sống và rút ngắn đáng kể tuổi thọ của bệnh nhân.

huyetkhotm5

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 29 Tháng 8 2019 22:35

Đánh giá, tiếp cận ban đầu và xử trí bệnh nhân nghi ngờ sốc

  • PDF.

Bs Nguyễn Tấn Hạnh - Khoa ICU

MỞ ĐẦU:

Sốc là một tình trạng suy tuần hoàn đe dọa tính mạng thường xảy ra với biểu hiện hạ huyết áp, ngoài ra bệnh nhân còn có thể có sự thay đổi các dấu hiệu sinh tồn cũng như gia tăng nồng độ lactat máu. Sốc có thể hồi phục nhưng cũng có thể nhanh chóng tiến triển đến không hồi phục dẫn đến hiện tượng suy chức năng đa cơ quan và tử vong. Vì vậy, khi bệnh nhân vào viện trong bối cảnh hạ huyết áp chưa rõ nguyên nhân hay nghi ngờ có sốc, điều quan trọng là các bác sĩ lâm sàng phải nhanh chóng xác định nguyên nhân và đưa ra những phương hướng xử trí thích hợp để ngăn ngừa trường hợp diễn tiến đến suy đa cơ quan và tử vong.

Bài viết này sẽ tóm lược các biểu hiện lâm sàng cũng như chẩn đoán ban đầu và tiếp cận điều trị đối với những bệnh nhân có biểu hiện hạ huyết áp hay nghi ngờ sốc chưa rõ nguyên nhân.

danhgiaso5

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 01 Tháng 9 2019 09:08

Máu tụ ngoài màng cứng cấp tính

  • PDF.

Bs Nguyễn Ngọc Tân - Khoa Ngoại TKCS

mautu11

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 26 Tháng 8 2019 18:20

Kiểm soát đường huyết trong đơn vị Chăm Sóc Tích Cực (ICU)

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Yến Linh - Khoa ICU

1. Ai có nguy cơ bị tăng đường huyết?

Tăng đường huyết có thể xảy ra ở những bệnh nhân đã biết hoặc chưa được chẩn đoán đái tháo đường. Tăng đường huyết trong bệnh cấp tính cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân dung nạp Glucose bình thường trước đó, gọi là tăng đường huyết do stress.

2. Tăng đường huyết phổ biến như thế nào ở những bệnh nhân bị bệnh nặng?

Tăng đường huyết cấp tính phổ biến ở các bệnh nhân bệnh nặng. Ước tính khoảng 96% trong tất cả bệnh nhân có tăng đường huyết trên 110mg/dL trong bệnh nặng. Tăng đường huyết do stress có liên quan đến kết quả lâm sàng bất lợi ở bệnh nhân bị chấn thương, nhồi máu cơ tim cấp và xuất huyết dưới nhện.      

3. Điều gì gây ra tăng đường huyết ở bệnh nhân nặng?

Ở những người khỏe mạnh, nồng độ Glucose trong máu được điều hòa chặt chẽ trong phạm vi hẹp. Nguyên nhân gây tăng đường huyết ở bệnh nhân nguy kịch do nhiều yếu tố. Độc tính của Glucose và hoạt động của các cytokines gây viêm, và các hormon đối kháng như cortisol và epinephrine gây ra sự tăng đề kháng Insulin ngoại biên và sản xuất Glucose ở gan. Viêc sử dụng Glucocorticoids, nuôi dưỡng trong và ngoài ruột có một đóng góp quan trọng cho tăng đường huyết.

duongicu

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 26 Tháng 8 2019 18:14

You are here Đào tạo Tập san Y học