Bs Nguyễn Thị Hải - Khoa Nội Thận nội tiết
Tập san Y học
Dùng insulin trên bệnh nhân cao tuổi
- Thứ tư, 04 Tháng 9 2019 20:02
- Biên tập viên
- Số truy cập: 2683
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 04 Tháng 9 2019 20:08
Vấn đề truyền máu trước khi nội soi trên bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa trên không do vỡ giãn tĩnh mạch
- Thứ tư, 04 Tháng 9 2019 18:41
- Biên tập viên
- Số truy cập: 4229
Ths. Bs. Lê Thị Thu Trang - khoa Nội Tiêu hóa
Theo Hội nội soi tiêu hóa Châu Âu (ESGE: European Society of Gastrointestinal Endoscope) khuyến cáo sử dụng chiến lược truyền máu hạn chế với mục tiêu hemoglobin từ 7-9g/dl, có thể đưa mục tiêu hemoglobin lên cao hơn ở các bệnh nhân có bệnh kèm nặng (Ví dụ bệnh tim thiếu máu cục bộ).
Thông thường cần duy trì hemoglobin ở mức ≥ 7g/dl ở phần lớn các bệnh nhân (kể cả bệnh nhân có bệnh mạch vành ổn định) và ≥ 9 g/dl ở bệnh nhân có nguy cơ cao như có biến chứng của thiếu máu nặng, bệnh mạch vành không ổn định hoặc ở bệnh nhân nghi đang chảy máu tiếp diễn. Cần truyền bổ sung 1 đơn vị plasma tươi đông lạnh cho mỗi 4 đơn vị hồng cầu khối truyền vào.
Việc truyền hồng cầu khối khi xuất huyết nặng có thể cứu sống tính mạng bệnh nhân; tuy nhiên, điều này lại không đúng trong những trường hợp vừa và nhẹ. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng gần đây trên 921 bệnh nhân XHTH trên do tất cả các nguyên nhân, chiến lược truyền máu hạn chế (hemoglobin mục tiêu 9-11 g/dl) được so sánh với chiến lược truyền máu tự do (hemogobin mục tiêu 9-11 g/dl) đã cho kết quả như sau:
Nhóm truyền máu hạn chế có tỉ lệ sống sau 6 tuần cải thiện có ý nghĩa thống kê so với nhóm truyền máu tự do (95% so với 91%; HR = 0,55; 95% CI: 0,33 - 0,92).
Nhóm truyền máu hạn chế có tỉ lệ giảm tái xuất huyết thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm truyền máu tự do (10% so với 16%; HR = 0,68; 95% CI: 0,47 – 0,98).
Trong 699 bệnh nhân XHTH trên không do vỡ giãn tĩnh mạch, tỉ lệ tử vong ở nhóm truyền máu hạn chế có xu hướng thấp hơn so với nhóm truyền máu tự do (3,7% so với 6,9%, p = 0,065).

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 04 Tháng 9 2019 19:47
Đánh giá huyết động xâm lấn với viêm màng ngoài tim co thắt
- Thứ hai, 02 Tháng 9 2019 09:35
- Biên tập viên
- Số truy cập: 4656
(Invasive hemodynamics of constrictive pericarditis)
Biên dịch: BS. Nguyễn Tuấn Long - Nội TM
Vấn đề lâm sàng: Một bệnh nhân nữ 20 tuổi - thai tháng thứ 6, không có tiền sử tim mạch đặc biệt - vào viện với biểu hiện của tức ngực và khó thở. Siêu âm tim cho thấy biểu hiện của tràn dịch màng ngoài tim lượng tim lượng ít, theo dõi viêm màng ngoài tim co thắt. Xét nghiệm có NT proBNP >3000 và hs-troponin T trong giới hạn bình thường. Vậy với chẩn đoán viêm màng ngoài tim co thắt, các phương pháp nào hiện có sẽ giúp chẩn đoán tốt hơn.
Tóm tắt: Thông tim và đánh giá huyết động là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán viêm màng ngoài tim co thắt (VMNTCTMT). Diễn giải thận trọng các dữ liệu huyết động giúp các bác sĩ phân biệt được nhóm bệnh nguyên này với các nguyên nhân khác. Trong bài này, chúng ta sẽ thảo luận tóm tắt những thay đổi huyết động căn bản có thể tìm thấy trên những bệnh nhân viêm màng ngoài tim co thắt.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 02 Tháng 9 2019 10:20
Hạ magie máu ở bệnh nhân nặng (p.2)
- Thứ hai, 02 Tháng 9 2019 09:06
- Biên tập viên
- Số truy cập: 10197
Bs Nguyễn Hoàng Kim Ngân - Khoa ICU
CÁC BIỂU HIỆN SINH HÓA VÀ LÂM SÀNG CỦA HẠ MG MÁU
Hạ Mg máu thường thứ phát sau các quá trình bệnh lý khác hoặc do thuốc, và các đặc điểm của bệnh nguyên phát có thể che dấu các dấu hiệu thiếu hụt Mg. Do đó, một chỉ số nghi ngờ cao là cần thiết [50]. Tổng quan về các biểu hiện sinh hóa và lâm sàng của hạ Mg máu được trình bày ở Bảng 3.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 02 Tháng 9 2019 09:19
Glycocalyx: một mục tiêu chẩn đoán và điều trị mới trong nhiễm trùng huyết
- Chủ nhật, 01 Tháng 9 2019 10:06
- Biên tập viên
- Số truy cập: 11418
Bs Lê Văn Tuấn - Khoa ICU
Glycocalyx là một lớp giống như gel bao phủ bề mặt bên trong của các tế bào nội mô mạch máu. Nó bao gồm các proteoglycan gắn màng, chuỗi glycosaminoglycan, glycoprotein và protein huyết tương kết dính. Glycocalyx duy trì cân bằng nội môi của mạch máu, bao gồm kiểm soát tính thấm của mạch máu và trương lực vi mạch, ngăn ngừa huyết khối vi mạch và điều chỉnh sự kết dính của bạch cầu.
Trong nhiễm trùng huyết, glycocalyx bị thoái hóa thông qua các cơ chế gây viêm như metallicoproteinase, heparanase và hyaluronidase. Những sheddase này được kích hoạt bởi các loại oxy phản ứng và các cytokine gây viêm như yếu tố hoại tử khối u alpha và interleukin-1beta. Suy thoái glycocalyx qua trung gian gây viêm dẫn đến tăng tính thấm của mạch máu, giãn mạch không được kiểm soát, huyết khối vi mạch và tăng độ bám của bạch cầu. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh mối tương quan giữa nồng độ glycocalyx trong máu với rối loạn chức năng nội tạng, mức độ nghiêm trọng và tỷ lệ tử vong trong nhiễm trùng huyết.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 01 Tháng 9 2019 13:57







