Sả chanh – cây thuốc quanh ta

BS Nguyễn Văn Tánh - 

Tên khoa học: Cymbopogon citratus (DC. ex Nees) Stapf. Poaceae (HọLúa) .

Tên khác: S, Mao hương.

Sả chanh là loại cỏ sống lâu năm, mọc thành bụi. Sả chanh được trồng rải rác trong nhân dân và trồng tập trung ở một số nông trường cả ở miền Bắc và miền Nam để chưng cất lấy tinh dầu sả. Các nghiên cứu chỉ ra rằng sả chanh có nhiều hoạt tính dược lý khác nhau như chống amip, kháng khuẩn, chống tiêu chảy, chống giun chỉ, chống nấm và chống viêm. Nhiều tác dụng khác như chống sốt rét, chống đột biến gen, chống vi khuẩn lao, chống oxy hóa, hạ đường huyết và tác động lên hệ thần kinh cũng đã được nghiên cứu.

Bộ phận dùng: toàn cây, dùng tươi hay phơi khô trong râm mát (Herba Cymbopogonis citrati); tinh dầu (Oleum Cymbopogonis citrati).

Tính vị công năng: Sả chanh vị cay ngọt, tính ấm, có mùi thơm, vào kinh phế, tỳ, vị; có công năng khu phong, thanh thấp, khư ứ, tán hàn, phát hãn, giải biểu. thông kinh lạc, tiêu thũng, phòng côn trùng đốt.

Công dụng:

Theo Tuệ Tĩnh, sả vị đắng, tính ấm, mùi thơm có công năng bạt hôi thối, trừ tà khí, giải cảm hàn thấp, nóng sốt, trị đau bụng, lạnh dạ, nôn mửa.

Trong nhân dân ta, lá và củ (thân và rễ) sả được dùng chữa cảm mạo, nóng sốt, đau đầu, đau bụng, ỉa chảy, đầy hơi, trướng bụng, viêm tai giữa có mủ, viêm phổi, ho, kinh nguyệt không đều, phù thũng khi có thai. Ngày dùng 8-12g hoặc 15-30g tươi hãm lấy nước uống hoặc xông và lấy nước uống. Lá sả còn dùng pha nước uống cho mát và lợi tiểu hoặc nấu nước gội đầu cho sạch gầu, trơn tóc, tránh bệnh về da đầu.

Sả được dùng chưng cất lấy tinh dầu làm nước hoa mỹ phẩm, xà phòng thơm, dùng trong công nghệ chất thơm. Tinh dầu sả chanh khử được mùi hôi tanh, xua đuổi ruồi muỗi, dùng xoa ngoài để phòng chống cúm, phòng bệnh truyền nhiễm. Để chữa cảm cúm, cảm lạnh do mưa, sốt, gai rét không ra mồ hôi, dùng 10 - 15 giọt, nhỏ vào một chén nước, uống rồi đắp chăn cho ra mồ hôi. Để chữa nôn, đầy bụng, ỉa chảy, nhỏ 6 - 8 giọt vào chén nước nóng, uống. Uống vài ba lần.

Lá, củ (thân rễ) và tỉnh dầu sả chanh đều có thể dùng làm gia vị.

Ở Ấn Độ, toàn cây hoặc dùng riêng lá, củ (thân rễ) chữa sốt, sốt rét, làm ra mồ hôi, ỉa chảy, chống nôn, lợi trung tiện. Nước hãm hoặc nước sắc làm mạnh dạ dày, kích thích tiêu hoá cho trẻ em; uống với bột quế, bột gừng và đường để ra mồ hôi và hạ sốt, uống với bột hạt tiêu đen chữa rối loạn kinh nguyệt, các dạng sung huyết, đau dây thần kinh. Nước hãm lá sả chanh, bạc hà, hạt tiêu đen, gừng khô, uống với đường chữa sốt, viêm số mũi, đầy trướng bụng. đau bụng. Tinh đầu sả chanh được dùng lợi trung tiện, trướng bụng, đau bụng, co thắt ruột, kích ứng dạ dày, trị ỉa chảy và nôn. Liều dùng: nhỏ tinh dầu 3 - 6 giọt vào miếng đường rồi uống hoặc chế thành nhũ dịch, nhỏ vào nước rồi uống. Dầu cũng được dùng trong công nghiệp làm thơm, làm mỹ phẩm, để gội đầu cho thơm và mượt tóc. Dùng ngoài, tinh dầu sả chanh trộn với đồng lượng dầu dừa làm thuốc xoa để chữa đau lưng, đau khớp, đau gân, đau dây thần kinh, thấp khớp, cũng dùng để tẩy giun.

Ở Indonesia, lá sả chanh để chữa sốt, chống nôn. Toàn cây được dùng làm ra mồ hôi, cảm lạnh, khó tiểu tiện, phù, làm thuốc súc miệng, chữa đau răng, điều kinh, thấp khớp, bong gân, viêm dạ dày, viêm ruột, rất hay dùng làm gia vị.

Ở Malaysia, sả chanh rất hay dùng để lợi tiểu nhẹ, để kích thích tiêu hoá và bổ, chống bệnh tật cho người mới đẻ. Ở Campuchia, lá được dùng trong nồi xông để làm cho ra mồ hôi, giải cảm, cải thiện tuần hoàn. Nước hãm lá để lợi trung tiện, chữa rối loạn tiêu hoá, để súc miệng và ngậm chữa đau răng và sưng lợi.

Bài thuốc có sả chanh

1. Chữa cảm lạnh, cảm mưa ướt, sốt gai rét không có mồ hôi

Dùng nồi nước xông giải cảm gồm sả chanh, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu (hay lá bạch đàn) dùng tươi, mỗi thứ một nắm (30-50g) cho vào nồi, đậy kín, đun sôi, đem xông hơi, trùm chăn cho ra mồ hôi rồi lau khô, uống một bát nước thuốc khi còn nóng, đắp chăn nằm nghỉ.

2. Chữa ỉa chảy

Thân rễ sả chanh 6g, củ ấu 10g, vỏ rụt 8g, vỏ quýt 6g, hậu phác 6g. Sắc đặc, uống làm nhiều lần trong ngày.

3. Chữa thấp thũng, phù hai chân, đái ít

Sả chanh 2 nắm, cỏ xước 1 nắm, rễ cỏ tranh 1 nắm (hay bông mã đề 1 nắm) (1 nắm 30-50 g), dùng tươi. Sắc chia 3 lần uống trong ngày. Dùng 3 ngày liền hoặc nhiều hơn.

4. Chữa hôi miệng, hôi nách

Bột củ sả chanh (củ sả chanh phơi khô tán bột) 10 phần, phèn phi 1 phần, luyện thành viên 0,5 – 1g, mỗi lần 1 - 2g, ngày 2-3 lần.

5. Đòn ngã tổn thương

Cây sả chanh tươi 30 - 45g, đun sôi, lấy nước, thêm ít rượu uống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ môn Dược liệu – Khoa Dược – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, Dược liệu chứa tinh dầu, Sả - Cymbopogon citratus, Poaceae. https://mplant.ump.edu.vn/index.php/sa-cymbopogon-citratus-poaceae/
  2. Gagan Shah et al, Scientific basis for the therapeutic use of Cymbopogon citratus, stapf (Lemon grass), J Adv Pharm Technol Res. 2011 Jan-Mar;2(1):3–8. doi: 10.4103/2231-4040.79796.
  3. Viện Dược Liệu (2011), Sả chanh ấn, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam - tập III, Nxb Khoa học và kỹ thuật, tr 639-654.

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: