Cập nhật tỷ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm từ nghiên cứu HIMALAYA về Tremelimumab kết hợp với Durvalumab trong ung thư biểu mô tế bào gan không thể phẫu thuật.

BSCKII. Trần Quốc Chiến - Trung tâm Ung bướu

1. TÓM LƯỢC

1.1. Bối cảnh và mục tiêu

Trong nghiên cứu pha III HIMALAYA (NCT03298451), phác đồ tremelimumab liều duy nhất sau đó duy trì bằng durvalumab (STRIDE – Single Tremelimumab Regular Interval Durvalumab) đã cải thiện đáng kể tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS – Overall Survival) so với sorafenib ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (HCC – Hepatocellular Carcinoma) không thể phẫu thuật và chứng minh lợi ích sống sót lâu dài.

1.2. Phương pháp

Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được phân ngẫu nhiên vào các nhóm STRIDE, durvalumab đơn trị hoặc sorafenib. Các chỉ số được đánh giá bao gồm OS, mức độ đáp ứng và các biến cố bất lợi nghiêm trọng. Những bệnh nhân sống sót lâu dài (trên 48 tháng kể từ khi phân ngẫu nhiên) được mô tả. Thời điểm cập nhật dữ liệu là ngày 01 tháng 3 năm 2024.

1.3. Kết quả

Thời gian theo dõi trung vị (95% CI) là 62,49 tháng (59,47–64,79) đối với STRIDE và 59,86 tháng (58,32–61,54) đối với sorafenib. Tỉ số nguy cơ (HR, 95% CI) về OS của STRIDE so với sorafenib là 0,76 (0,65–0,89). Tỷ lệ OS tại 60 tháng với STRIDE so với sorafenib lần lượt là 19,6% so với 9,4% (toàn bộ), 28,7% so với 12,7% ở những bệnh nhân đạt kiểm soát bệnh theo Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng các khối u đặc phiên bản 1.1 (RECIST v1.1 – Response Evaluation Criteria in Solid Tumors, version 1.1), và 50,7% so với 26,3% ở những bệnh nhân đạt mức thu nhỏ khối u > 25%. Không ghi nhận biến cố bất lợi nghiêm trọng liên quan đến điều trị khởi phát muộn với STRIDE. Có nhiều bệnh nhân sống sót lâu dài hơn với STRIDE (83/393, 21,1%) so với sorafenib (45/389, 11,6%), và sống sót lâu dài mở rộng được ghi nhận trên tất cả các nhóm bệnh nhân có ý nghĩa lâm sàng.

himalaya

Xem tiếp tại đây


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 29 Tháng 5 2026 10:07