• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

Capture8

Ttin thuốc

Tác dụng không mong muốn và độc tính của thuốc kháng sinh

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Mai

Thuốc được đưa vào nước ta bằng nhiều đường khác nhau do vậy chưa được kiểm soát chặt, đặc biệt là nhóm thuốc kháng sinh, ngày nay có nhiều biệt dược mới xuất hiện và kháng sinh cũng là một loại thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị. Tuy vậy, một số thuốc kháng sinh còn có tác dụng phụ (tác dụng không mong muốn) không định trước được có thể xảy ra ở người bệnh  với liều thường dùng và khi dùng liều cao thì hầu hết các thuốc đều có độc tính.

tacdungphu1

Những tác dụng phụ và độc tính hay gặp ở một số thuốc kháng sinh thường dùng:

A. Nhóm beta- lactam:

1. Dị ứng, những biểu hiện dễ gặp là:

- Choáng phản vệ, khó thở, trụy tim mạch

- Ngoài da: Ngứa, mày đay( gặp ngay hoặc trong vòng 2 ngày sau khi dùng thuốc), có thể tai biến chậm sau ngày thứ 3( ban đỏ dạng sởi, phát ban bọng nước).

- Bệnh huyết thanh: 4-12 ngày sau khi dùng thuốc có sốt, viêm khớp, bệnh hạch, lách to, giảm bạch cầu.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 17 Tháng 3 2015 17:32

Cảnh báo về các nguy cơ khi sử dụng kháng sinh vancomycin

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Thúy Hằng

Vancomycin là chất kháng sinh thuộc nhóm glycopeptid đã được đưa vào chữa bệnh từ hơn 40 năm qua, nhưng ngày nay vẫn được coi là kháng sinh quan trọng do hiệu quả chữa bệnh cao khi dùng đơn thuần hoặc phối hợp với các kháng sinh khác, chống lại các vi khuẩn đã nhờn với nhiều loại kháng sinh thông dụng. Đặc biệt trong điều trị tích cực các bệnh nhiễm trùng nguy hiểm do các chủng vi sinh vật kháng methicillin (chất kháng sinh nhóm β-lactam) gây nên.

Cơ chế tác dụng vancomycin và sức đề kháng:

 vanco1

Biểu đồ này cho thấy chỉ có một trong hai cách vancomycin chống lại các vi khuẩn (ức chế tế bào liên kết ngang) và chỉ một trong nhiều cách mà vi khuẩn có thể trở nên kháng với nó:

1. Vancomycin được thêm vào môi trường vi khuẩn trong khi nó đang cố gắng để tổng hợp thành tế bào mới. Ở đây, các sợi tế bào đã được tổng hợp, nhưng chưa liên kết ngang.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 10 Tháng 7 2015 09:07

Không nên sử dụng lidocain 2% để điều trị đau do mọc răng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Cẩm Vân

Trong năm 2014, FDA đã nhận được 22 trường hợp báo cáo phản ứng bất lợi, bao gồm cả tử vong đối với trẻ em từ 5 tháng tuổi đến 3,5 tuổi sử dụng dung dịch lidocain 2% để điều trị đau răng, viêm miệng hoặc do trẻ vô tình nuốt vào đường tiêu hóa. Do đó FDA đã yêu cầu nhà sản xuất bổ sung vào phần “ cảnh báo đặc biệt” trong tờ hướng dẫn  các nguy cơ gặp các phản ứng nghiêm trọng và bổ sung hướng dẫn về liều dùng khi kê đơn.

Tại Anh các chế phẩm chứa lidocain 2% chỉ dùng cho trẻ em trên 12 tuổi. Đối với trẻ em trên 3 tháng tuổi, có thể sử dụng chế phẩm chứa lidocain 0,3%, 0,5% và 0,6% nhưng cần phải tuân thủ liều dùng và khoảng cách giữa các lần dùng tối thiểu là 3 giờ. Ở Việt Nam, một số chế phẩm chứa lidocain 2% đã được cấp số đăng ký lưu hành như Kamistad-Gel N, Xylocain gel 2%.

kamist

Đọc thêm...

Phản ứng bất lợi nghiêm trọng liên quan đến Rodogyl (metronidazol/spiramycin)

  • PDF.

Ds Hoàng Văn Nam

Thuốc phối hợp cố định liều metronidazol và spiramycin được sử dụng phổ biến trong nha khoa để điều trị nhiễm khuẩn răng miệng cấp tính, mạn tính hoặc tái phát và dự phòng nhiễm khuẩn tại chỗ sau phẫu thuật nha khoa. Tại Việt Nam, hiện có 39 số đăng ký trong nước chứa hai hoạt chất trên. Một số nước như Pháp, Tây Ban Nha, Séc, Mexico, Argentina… cũng đang lưu hành trên thị trường dạng thuốc phối hợp này.

rodogyl

Khi sử dụng dạng phối hợp metronidazol và spiramycin, bệnh nhân có nguy gặp các phản ứng có hại (ADR) do một trong hai hoặc cả hai thuốc thành phần. Phản ứng có hại thường gặp nhất khi uống metronidazol bao gồm buồn nôn, nhức đầu, chán ăn, khô miệng, miệng có vị kim loại. Khoảng 5 – 25% bệnh nhân sử dụng metronidazol gặp các ADR trên đường tiêu hóa. Các ADR trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, ỉa chảy, khó tiêu) cũng thường gặp khi uống spiramycin, với tỷ lệ xảy ra trên 1/100. Một số ADR khác có thể xảy ra khi sử dụng thuốc bao gồm: phát ban trên da, mày đay, ngứa, dị cảm, xét nghiệm chức năng gan bất thường (liên quan đến metronidazol); phát ban trên da, đau đầu, bệnh thần kinh ngoại vi, chóng mặt, co giật, lẫn lộn, ảo giác (liên quan đến spiramycin) [1].

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 18 Tháng 11 2014 15:02

Liệu pháp mới trong điều trị đái tháo đường týp 2

  • PDF.

Ds Hoàng Văn Nam

Ngày 01/08/2014, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (The U.S. Food and Drug Administration, FDA) đã chấp thuận viên nén Jardiance (empagliflozin) như một loại thuốc bổ sung vào chế độ ăn uống và tập luyện để cải thiện và kiểm soát đường huyết ở người lớn bị đái tháo đường type 2.

Bệnh đái tháo đường type 2 ảnh hưởng đến khoảng 26 triệu người và chiếm hơn 90% các trường hợp mắc bệnh đái tháo đường được chẩn đoán ở Hoa Kỳ. Theo thời gian, lượng đường trong máu cao sẽ làm tăng nguy cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng gồm: bệnh tim mạch, mù, tổn thương thận và hệ thần kinh.

Jardiance

Bác sĩ Curtis J. Rosebraugh, giám đốc phòng đánh giá thuốc II thuộc Trung tâm nghiên cứu và đánh giá thuốc của FDA cho biết: “Jardiance cung cấp một lựa chọn điều trị bổ sung trong việc chăm sóc cho bệnh nhân đái tháo đường type 2. Thuốc có thể sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với các phác đồ điều trị có sẵn để kiểm soát lượng đường trong máu trong việc quản lý bệnh đái tháo đường”.

Jardiance là một chất ức chế đồng vận chuyển Natri, glucose (SGLT2). Thuốc hoạt động bằng cách ngăn chặn sự tái hấp thu glucose (đường trong máu) qua thận, tăng bài tiết glucose và làm giảm lượng đường trong máu ở bệnh nhân đái tháo đường có lượng đường trong máu cao. Tính an toàn và hiệu quả của thuốc được đánh giá qua bảy thử nghiệm lâm sàng trên 4480 bệnh nhân đái tháo đường type 2 được chỉ định Jardiance. Các thử nghiệm quan trọng cho thấy Jardiance cải thiện nồng độ hemoglobin A1c (một chỉ số giúp đo lường sự kiểm soát  lượng đường trong máu) so với giả dược.

Jardiance được nghiên cứu như một liệu pháp điều trị độc lập và trong các phối hợp với các thuốc điều trị đái tháo đường type 2  khác bao gồm metformin, sulfonylurea, pioglitazone và insulin. Jardiance không nên dùng để điều trị bệnh nhân đái tháo đường type 1, những người tăng ceton trong máu hoặc nước tiểu (nhiễm toan ceton do đái tháo đường), những người suy thận nặng, bệnh thận giai đoạn cuối hoặc ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo.

FDA cũng yêu cầu bốn nghiên cứu đi kèm sau khi Jardiance được đưa ra thị trường:

  • Hoàn tất thử nghiệm đang tiến hành với các tiêu chí đánh giá trên tim mạch.
  • Nghiên cứu dược động học, dược lực học trên trẻ em.
  • Nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu quả trên trẻ em. Do nghiên cứu này là một phần của nghiên cứu về độ an toàn và hiệu quả, ảnh hưởng của thuốc lên sự phát triển và trên xương cũng sẽ được đánh giá.
  • Nghiên cứu độc tính trên động vật đặc biệt tập trung vào sự phát triển thận, xương và sự tăng trưởng.

Jardiance có thể gây mất nước, tụt huyết áp dẫn đến chóng mặt, ngất xỉu và suy giảm chức năng thận. Người lớn tuổi, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu để điều trị các bệnh khác nhạy cảm hơn với nguy cơ này.

Tác dụng phụ thường gặp nhất của Jardiance là nhiễm trùng tiểu và nhiễm trùng cơ quan sinh dục nữ.

Jardiance được phân phối bởi Công ty dược phẩm Boehringer Ingelheim, Ridgefield tiểu bang Connecticut.

Nguồn: FDA

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 18 Tháng 11 2014 14:14

You are here Tin tức Thông tin thuốc