• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

Capture8

Ttin thuốc

Những loại thuốc bổ sung và thay thế trong điều trị glôcôm

  • PDF.

Bs Lê Thị Hà - Khoa Mắt

Dịch tễ học: Vào khoảng 70 triệu người lớn ở Mỹ đã dùng những thuốc bổ sung hay những liệu pháp thay thế từ năm 1997 đến 2002. Các thuốc này gồm: thuốc có nguồn gốc thực vật, châm cứu, phép chữa vi lượng, chữa bằng lòng tin, bằng chiêm nghiệm (meditation), liệu pháp vitamin liều lớn (đại liều), liệu pháp xúc giác, tập luyện, thay đổi chế độ ăn uống.... đã chiếm tần xuất khoảng 5%.

1. Vitamin liều cao: các loại vitamin đã giữ vai trò cơ bản trong chuyển hoá của toàn cơ thể nhưng thiếu vitamin không gây glôcôm ở người. Phân tích dữ kiện của các nghiên cứu trước đây cho thấy không có sự liên quan giữa việc dùng các chất chống oxýt hoá trong khẩu phần ăn với nguy cơ bị glôcôm góc mở nguyên phát ngoại trừ hậu quả của VitC liều cao cho truyền tĩnh mạch làm biến đổi độ thẩm thấu có huyết thanh gây glôcôm đóng góc cấp. Các vitamin với liều thật cao đã không có lợi gì cho bệnh nhân bị glôcôm. Hiện nay không có một dữ kiện khoa học nào cho biết vitamin với liều thật cao giúp ích cho glôcôm.

glaucoma1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 26 Tháng 2 2016 20:19

Cập nhật thông tin liên quan đến nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ của các thuốc chống viêm không steroid

  • PDF.

Ds Nguyễn Thị Thúy Hằng

Cụm từ thuốc chống viêm không steroid (viết tắt NSAID) dường như không mấy xa lạ với  người sử dụng thuốc tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ được tác dụng,cơ chế tác dụng cũng như các biến chứng do thuốc gây ra trong quá trình sử dụng thuốc.

Thuốc chống viêm không steroid- NSAIDs là một nhóm thuốc bao gồm các thuốc có hoạt tính chống viêm và không chứa nhân steroid. Nhóm này bao gồm nhiều dẫn chất có thành phần hoá học khác nhau nhưng có chung cơ chế tác dụng là ức chế các chất trung gian hoá học gây viêm, quan trọng nhất là prostaglandine - điều này lý giải phần lớn các hiệu quả của thuốc, đồng thời cũng giải thích tác dụng phụ của nhóm thuốc chống viêm không steroid. Đa số các thuốc trong nhóm cũng có tác dụng hạ nhiệt và giảm đau. Các thuốc chống viêm không steroid chỉ làm giảm các triệu chứng viêm mà không loại trừ được các nguyên nhân gây viêm, không làm thay đổi tiến triển của quá trình bệnh lý chính.

Tác dụng chống viêm: Thuốc có tác dụng ức chế sinh tổng hợp Prostaglandin (PG) do ức chế men cyclo-oxygenase (COX) làm giảm tổng hợp PG.

 hang1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 22 Tháng 1 2016 08:40

Những lưu ý khi dùng nhóm thuốc giảm mỡ máu statin

  • PDF.

Ds CK2 Nguyễn Văn Ngọc

Statin là nhóm thuốc được chỉ định sử dụng phối hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục để làm giảm nồng độ cholesterol xấu trong máu. Trên thị trường, có các chế phẩm statin được sản xuất dưới dạng các sản phẩm có thành phần duy nhất hoặc những sản phẩm kết hợp. Dù là thuốc được sử dụng rộng rãi để làm hạ mỡ máu, tuy nhiên, thuốc cũng có một số tác dụng phụ cần phải đề phòng.

Tổn thương cơ

Simvastatin là một thuốc hạ mỡ máu thuộc nhóm ức chế men 3-Hydroxy-3-methylglutaryl-coenzyme A reductase. Do có tác dụng tốt trên cả cholesterol và triglyceride nên statin là nhóm thuốc hạ mỡ máu được sử dụng rộng rãi. Mặc dù thuốc có độ an toàn khá cao so với các thuốc hạ mỡ máu khác, nhưng nhóm statin cũng có thể gây ra khá nhiều tác dụng phụ cho người sử dụng, trong đó, tổn thương cơ là một trong những vấn đề thường gặp nhất, xảy ra ở 1-5% số người dùng thuốc và chiếm 25% tổng số các tác dụng phụ liên quan đến statin.

statin11

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 22 Tháng 1 2016 08:37

Báo cáo hiếm gặp hoại tử ống tai ngoài của Bisphosphonates

  • PDF.

 Ds Nguyễn Thị Mai

Bisphosphonates là một nhóm các loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh loãng xương, bệnh Paget, và như là một phần của một số phác đồ bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư xương di căn và đa u tủy. Bisphosphonates được dùng riêng lẻ hoặc phối hợp trong các chỉ định khác nhau.

Dựa vào cấu trúc hóa học, có thể chia các thuốc bisphosphonates thành 2 nhóm: nhóm có chứa nitrogen (như alendronate, risedronate, ibandronate, olpadronate, pamidronate, zoledronate) và nhóm không chứa nitrogen (etidronate, clodronate, và tiludronate)

hoaitutai1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 20 Tháng 12 2015 09:19

Thuốc dùng trong nhãn khoa

  • PDF.

Bs Lê Thị Hà - Khoa Mắt

Thuốc có thể được sử dụng trong nhãn khoa bằng 2 cách: tại chỗ khi các thuốc được dùng trực tiếp ở mắt và đường toàn thân khi thuốc được uống hay tiêm vào cơ thể rồi theo máu đến mắt. Điều trị thuốc toàn thân có hiệu quả hơn đối với các bệnh phần sau nhãn cầu: Bệnh hắc mạc – màng bồ đào, cũng mạc, võng mạc, thị thần kinh và hốc mắt .

I. Một số đặc điểm chung của điều trị thuốc tại mắt

Điều trị tại mắt có hiệu quả hơn đối với các bệnh thuộc phần trước nhãn cầu: kết mạc ,giác mạc, tiền phòng và mống mắt. Tùy theo bệnh cảnh cụ thể có thể dùng thuốc tại mắt dưới dạng thuốc tra mắt nước, thuốc mở ,thuốc tiêm dưới kết mạc, tiêm cạnh cầu, tiêm hậu cầu và thuốc đưa vào nhãn cầu bằng điện di hoặc bằng siêu âm di. Mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng.

Hoạt chất trong hầu hết các thuốc tra nhỏ mắt chỉ tiếp xúc với kết mạc và giác mạc trong thời gian ngắn (khoảng 30 phút). Tuy nhiên, thuốc có thể cũng tác động đến cơ thể bằng tính dược động học của thuốc hoặc do sử dụng không đúng. Nếu muốn duy trì hàm lượng thuốc cao tại mắt, thuốc cần được sử dụng thường xuyên, có nghĩa là hàng giờ hoặc nữa giờ 1 lần. Do đó, một vài loại thuốc tra mắt cũng có chứa thêm tá dược như methyl cenlulose làm cho dung dịch thuốc nhầy hơn, khiến thuốc được tiếp xúc lâu hơn tại mắt.

dieutrimt1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 26 Tháng 11 2015 06:59

You are here Tin tức Thông tin thuốc