• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

Capture8

Tập san Y học

Nhân một trường hợp điều trị phình động mạch chủ bụng bằng can thiệp nội mạch tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Khoa Nội tim mạch

Phình động mạch được định nghĩa là sự phình khu trú của động mạch với đường kính ngang lớn hơn 1,5 lần so với kích thước động mạch bình thường lân cận. Đường kính động mạch chủ bụng trung bình của người việt nam là 1.5-2 cm, như vậy  một phình động mạch chủ bụng phải có đường kính tối thiểu 3 cm.

Nguyên nhân của phình động mạch chủ bụng có thể do nhiều yếu tố kết hợp trong đó 90% là do xơ vữa động mạch, các nguyên nhân khác bao gồm nhiễm trùng, chấn thương, viêm động mạch, bệnh lý mô liên kết có tính di truyền…

Một số yếu tố được xem là nguy cơ phình động mạch chủ bụng như thuốc lá (quan trọng nhất), tuổi lớn, bệnh động mạch vành, tăng huyết áp, phình động mạch ở vị trí khác, yếu tố gia đình, chủng tộc (da trắng bị nhiều hơn), nam giới có tần suất bị phình động mạch chủ bụng cao gấp 5 lần nữ giới.

phinh dmcb1

Xem tiếp tại đây

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ năm, 26 Tháng 10 2017 19:42

Cập nhật về xử trí băng huyết sau sinh

  • PDF.

Bs Nguyễn Thị Kiều Trinh- Khoa Phụ Sản

Băng huyết sau sinh ( BHSS) cho đến nay vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ và vẫn còn là nỗi kinh hoàng cho các thầy thuốc sản khoa cũng như người nhà và thai phụ. Việc chuẩn bị ekip hồi sức và các gói chống xuất huyết trong BHSS luôn được sẵn sàng, các bảng đánh giá và phân độ lượng máu mất và phác đồ xử trí băng huyết luôn  được treo tại phòng sinh. Việc theo dõi và chăm sóc sau sinh trong những giờ đầu sau sinh, phối hợp giũa NHS và BS sản khoa, gây mê phẫu thuật,  hồi sức, huyết học, chẩn đoán hình ảnh  là rất quan trọng để phát hiện và xử trí kịp thời BHSS để hạn chế đến mức thấp nhất tai biến về BHSS gây ra cho sản phụ. Dưới đây, là các cập nhật được trình bày ở các Hội nghị sản phụ khoa cũng như các chương trình tập huấn online liên quan đến đào tạo lại cho các thầy thuốc và NHS trong phát hiện và xử trí BHSS.

bhss

Xem tiếp tại đây

Băng huyết sau sinh ( BHSS) cho đến nay vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ và vẫn còn là nỗi kinh hoàng cho các thầy thuốc sản khoa cũng như người nhà và thai phụ. Việc chuẩn bị ekip hồi sức và các gói chống xuất huyết trong BHSS luôn được sẵn sàng, các bảng đánh giá và phân dộ lượng máu mất và phác đồ xử trí băng huyết luôn  được treo tại phòng sinh. Việc theo dõi và chăm sóc sau sinh trong những giờ đầu sau sinh, phối hợp giũa NHS và BS sản khoa, gây mê phẫu thuật,  hồi sức, huyết học, chẩn đoán hình ảnh  là rất quan trọng để phát hiện và xử trí kịp thời BHSS để hạn chế đến mức thấp nhất tai biến về BHSS gây ra cho sản phụ. Dưới đây, là các cập nhật được trình bày ở các Hội nghị sản phụ khoa cũng như các chương trình tập huấn online liên quan đến đào tạo lại cho các thầy thuốc và NHS trong phát hiện và xử trí BHSS.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 23 Tháng 10 2017 16:48

Hội chứng trộm máu dưới đòn

  • PDF.

tmdd

Xem tại đây

Ung thư cổ tử cung

  • PDF.

Bs Phạm Ngọc Na - Khoa Ung bướu

1. Dịch tễ học

-  Trên thế giới, ung thư cổ tử cung phổ biến thư 3 và gây tử vong hàng thứ tư trong các ung thư ở nữ giới.

-  Trong năm 2008, có hơn 529800 ca mắc mới đã được chẩn đoán trên toàn thế giới, ước tính khoảng 275100 phụ nữ chết mỗi năm vì căn bệnh này.

-  Ở Mỹ, ung thư cổ tử cung là ung thư phổ biến thứ 3 trong các ung thư đường sinh sản ở nữ, với hơn 12170 ca mắc mới và ước tính gây ra cái chết cho khoảng 4220 người vào năm 2012.

- Tầm soát bằng kỹ thuật phết tế bào cổ tử cung (PAP) đã giúp giảm tỷ lệ mắc mới hàng năm và tử vong do ung thư cổ tử cung di căn lên đến 75% trong vòng 50 năm gần đây; tuy nhiên, 86% số ca được phát hiện ở những đất nước, nơi mà tầm soát chưa phát triển.

kctc

Đọc thêm...

Tiếp cận về điều trị lạc nội mạc tử cung

  • PDF.

 BSCKII NGUYỄN THỊ KIỀU TRINH- KHOA PHỤ SẢN

Bệnh lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là một tình trạng có những mảnh mô tương tự nội mạc tử cung xuất hiện ở những vị trí khác nhau bên ngoài tử cung. Tỷ lệ mắc bệnh thường là 5- 10% ở phụ nữ độ tuổi hoạt động sinh sản ( 25- 35 tuổi) và 50% liên quan đến phụ nữ hiếm muộn, vô sinh. Bệnh này có thể phát hiện ở buồng trứng, bàng quang, ruột, và trong một số trường hợp nó có thể xuất hiện ở khắp vùng chậu và một số cơ quan khác. Bệnh LNMTC gây đau vùng chậu triền miên và dai dẳng làm ảnh hưởng đến chất lượng sống và khả năng sinh sản của người phụ nữ.

lnmtc1

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 16 Tháng 10 2017 18:48

You are here Đào tạo Tập san Y học