• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

Capture8

Đề tài NCKH

Bước đầu triển khai phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối qua nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Bs CKI Nguyễn Tam Thăng

I. ĐẶT VẤN ĐỀ 

Khớp gối giữ vai trò rất quan trọng trong hoạt động của cơ thể, giúp cơ thể di chuyển và truyền tải lực nhưng luôn được giữ vững ở mọi trạng thái nhờ vào chức năng của hệ thống dây chằng, bao khớp, sụn chêm và hệ thống cơ bắp dưới sự điều hòa của hệ thần kinh và mạch máu nuôi. Đứt dây chằng chéo trước (DCCT) làm giảm đi sự vững chắc của khớp gối, mâm chày bị trượt ra trước và sẽ gây tổn thương thứ phát đến các thành phần khác trong khớp như: rách sụn chêm, lỏng khớp, bong nứt sụn lồi cầu đùi và mâm chày, thoái hóa khớp từ đó đẩy nhanh đến quá trình hư khớp gối. Đứt DCCT bản thân nó không thể tự lành được, chính vì vậy phải phẫu thuật tái tạo lại dây chằng này sớm để làm vững chắc, tránh làm hỏng thêm các thành phần khác của khớp gối để bệnh nhân sớm trở về cuộc sống sinh hoạt bình thường.

daychang1

Phẫu thuật nội soi khớp gối ngày nay được áp dụng thông dụng trên thế giới nhờ vào các ưu điểm: vừa chẩn đoán vừa điều trị, xác định đủ chính xác các tổn thương bên trong khớp gối, hạn chế tối đa tổn thương giải phẫu do phẫu thuật mở khớp gối, thời gian nằm viện ngắn, phục hồi chức năng khớp gối sớm trở lại sinh hoạt và hoạt động thể thao.

Tại Việt Nam phẫu thuật nội soi các chuyên ngành khác như ngoại tổng quát, tiết niệu, sản…đang phát triển theo nhịp độ của thế giới và mang đến cho người bệnh kỹ thuật điều trị cao, chất lượng tốt theo xu hướng phát triển của kinh tế nước ta. Nội soi khớp trong chỉnh hình không thể nằm ngoài xu hướng phát triển này, cho nên cần áp dụng nghiên cứu phẫu thuật nội soi khớp gối là yêu cầu bức thiết để mang đến hiệu quả điều trị cao cho người bệnh. Việc chẩn đoán tổn thương đứt dây chằng chéo trước khớp gối chủ yếu dựa vào khám lâm sàng, kết hợp với hình ảnh cộng hưởng từ giúp xác định  các tổn thương kèm theo như rách sụn chêm..Từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước về phẫu thuật nội soi khớp gối.

Đọc thêm...

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 24 Tháng 6 2013 14:41

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đặt mesh tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP)

  • PDF.

Ths Bs Nguyễn Tải

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thoát vị bẹn là một bệnh lý ngoại khoa thường gặp ở các cơ sở phẫu thuật và có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị bệnh này. Tỉ lệ tái phát là một yếu tố quyết định cho việc chọn lựa phương pháp phẫu thuật. Đặt mảnh ghép qua mổ mở cho tỉ lệ tái phát thấp. Từ khi phẫu thuật cắt túi mật nội soi ra đời, cho đến nay phẫu thuật nội soi đã dần dần thay thế phẫu thuật mở trong nhiều loại phẫu thuật.

Phẫu thuật phục hồi thành bụng qua nội soi được thử nghiệm từ năm 1982 bởi Ger, đến năm 1989 được Bogajavalenski thực hiện trên người. Sau đó phẫu thuật này được các phẫu thuật viên thực hiện ngày càng nhiều và có nhiều cải tiến về kỹ thuật. Hiện còn hai phương pháp mổ qua ngả nội soi là: phương pháp xuyên ổ bụng vào khoang tiền phúc mạc (TAPP: Transabdominal preperitoneal repair) và phương pháp ngoài phúc mạc (TEP: Total extraperitoneal repair. Phương pháp đầu có bất lợi là phải vào ổ bụng nên cần gây mê và có thể gây dính tạng về sau. Phương pháp ngoài phúc mạc giống như phương pháp mổ mở ngả tiền phúc mạc, nên phương pháp này cũng mổ được dưới gây tê vùng.  Từ thực tế trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đặt mesh tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP)” với mục tiêu: “Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn ”.
tep1

Mời các bạn xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 24 Tháng 6 2013 14:33

Khảo sát tương quan giữa chỉ số HOMA và HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường thể 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Ths Bs Trần Thị Vân Anh

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường thể 2 (ĐTĐ thể 2) là hậu quả của sự suy giảm chức năng tế bào β tuyến tụy và tình trạng kháng insulin hoặc kết hợp cả hai.

Việc đánh giá đúng tình trạng kháng insulin góp phần quan trọng trong điều trị hiệu quả cho bệnh nhân ĐTĐ thể 2. Cho đến nay, kỹ thuật kẹp do De Fronzo lần đầu tiên thực hiện năm 1979, vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá tình trạng đề kháng insulin. Nhưng đây là một kỹ thuật xâm nhập, phức tạp nên rất khó được áp dụng rộng rãi. Trong thực tế, chúng ta thường dùng các chỉ số HOMA-IR, QUIKY và tỷ số I/G để đánh gía tình trạng kháng insulin của bệnh nhân ĐTĐ.

homa1

Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng kháng insulin qua chỉ số HOMA-IR, QUIKY, có mối tương quan mật thiết với chỉ số BMI, WRH, bilan lipid, mức độ tăng huyết áp. Chỉ số HbA1c được xem là thông số để theo dõi hiệu quả điều trị. Từ năm 2010, WHO và ADA đều cho phép sử dụng HbA1c vào tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ. HbA1c là một tiêu chuẩn chính thức giúp cho việc chẩn đoán thuận tiện và chính xác hơn, đặc biệt là xét nghiệm HbA1c có thể lấy máu bất cứ thời điểm nào, nên rất thuận tiện cho tầm soát cộng đồng. Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu:

1. Xác định chỉ số HOMA của bệnh nhân ĐTĐ thể 2 đang được điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa Khoa tỉnh Quảng Nam
2. Khảo sát mối tương quan giữa chỉ số HOMA và HbA1c
.

Lần cập nhật cuối lúc Chủ nhật, 09 Tháng 6 2013 08:27

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm nha chu trên bệnh nhân đái tháo đường type 2

  • PDF.

Bs CKII Phan Văn Trương - Khoa RHM

Xem tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 07 Tháng 6 2013 06:42

Bước đầu ứng dụng điều trị tắc ruột sau mổ bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Bs Nguyễn Xuân Vương - Khoa Ngoại TH

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tắc ruột: là sự ngưng trệ lưu thông trong lòng ruột. Các chất trong lòng ruột như hơi, dịch, đồ ăn, phân... không di chuyển được từ trên xuống dưới để tống qua hậu môn ra ngoài.

Tắc ruột sau mổ (TRSM) là cấp cứu thường gặp và cho đến nay vẫn là vấn đề nan giải trong ngoại khoa. Điều trị TRSM kinh điển là mổ mở cho những trường hợp mà điều trị bảo tồn không cải thiện hoặc trường hợp có dấu hiệu gợi ý tắc ruột kiểu thắt nghẹt. Mổ mở tuy đơn giản nhưng lại có nguy cơ tắc ruột về sau càng nhiều.

Năm 1991, Bastug lần đầu tiên áp dụng phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị thành công 1 trường hợp tắc ruột do dính sau mổ. Từ đó đến nay, có nhiều báo cáo trên thế giới về điều trị tắc ruột bằng PTNS với những kết quả đáng khích lệ. Lợi thế xâm hại tối thiểu của PTNS trong điều trị tắc ruột làm cho bệnh nhân hồi phục nhanh và giảm được nguy cơ tắc ruột về sau.

tacruotnoisoi1

Mời các bạn xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 28 Tháng 5 2013 10:13

You are here Đào tạo Đề tài NCKH