• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

Capture8

Đề tài NCKH

Tình hình băng huyết sau sanh phải truyền máu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam năm 2012

  • PDF.

Khoa Sản

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 500 ngàn phụ nữ chết hàng năm liên quan đến thai nghén và sanh đẻ, 99% trường hợp xảy ra ở các nước đang phát triển, trong số đó có 150.000 ca chết vì băng huyết sau sanh (BHSS) chiếm 25% tử vong mẹ. BHSS có thể xảy ra ngay sau sanh hay trễ hơn, có thể chảy máu ồ ạt, hay chảy máu kéo dài. Theo TS Vũ Thị Nhung (TP.HCM): "Trong số khoảng 30.000 sản phụ sinh tại Bệnh viện Hùng Vương mỗi năm, băng huyết sau sanh chiếm tỷ lệ từ 1,5%-2%, trong đó có 35% phải truyền máu". Theo thống kê Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM): "Băng huyết sau sanh là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, chiếm tỷ lệ từ 2%-10% tổng số ca. Khảo sát trong nhiều năm liền tại Bệnh viện Từ Dũ, mỗi năm có ít nhất 100 trường hợp sản phụ bị băng huyết sau sinh trong tình trạng nặng".

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam, BHSS chiếm tỉ lệ cao nhất trong 5 tai biến sản khoa, trong đó BHSS nặng vẫn thường là mối nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và sức khỏe sản phụ. Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tàì “Tình hình BHSS phải truyền máu năm 2012 tại  Bệnh viện Quảng Nam” với 2 mục tiêu:

  1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của các ca BHSS nặng cần truyền máu.
  2. Nghiên cứu các nguyên nhân gây BHSS và nhận xét các phương pháp xử trí BHSS cần truyền máu.

bhss1

Xem tiếp toàn văn tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 21 Tháng 12 2013 21:07

Bước đầu đánh giá hiệu quả của gây tê tủy sống trong mổ cắt ruột thừa viêm qua nội soi tại BVĐK tỉnh Quảng Nam nhân 9 trường hợp lâm sàng

  • PDF.

Bs CKI Dương Văn Truyền - Khoa GMHS

Hiện nay phẫu thuật nội soi là phương pháp được lựa chọn trong điều trị phẫu thuật RTV cấp. Trước đây phẫu thuật nội soi thường được tiến hành dưới gây mê nội khí quản nhằm đảm bảo cho bệnh nhân ngủ tốt, giảm đau và giãn cơ tốt, tạo thuận lợi thao tác cho phẫu thuật viên. Tuy nhiên phẫu thuật nội soi là phẫu thuật ít xâm nhập, với kinh nghiệm của phẫu thuật viên đã ngày càng rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật. Cùng với sự tiến bộ của phẫu thuật thì phương pháp vô cảm cũng phải ngày càng cải tiến nhằm đáp ứng tốt cho yêu cầu phẫu thuật cũng như sự an toàn cho bệnh nhân. Trong mỗi phương pháp đều có những bất lợi khác nhau; nhất là khi bệnh nhân có nhiều bệnh lý nội khoa kèm theo như bệnh lý tim mach, hô hấp, đái đường, suy gan, suy thận...thì gây mê toàn thân tỏ ra có nhiều bất lợi như bệnh nhân tỉnh chậm, suy hô hấp và nguy cơ nhồi máu cơ tim sau mổ cao, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hồi tỉnh. Mặt khác khi đặt ống NKQ còn gây kích thích hầu họng nên nguy cơ trào ngược cao đặc biệt ở những bệnh nhân có dạ dày đầy, đặt NKQ khó, đặt nhầm vào thực quản...Chi phí tiền cho gây mê gấp 10-15 lần so với gây tê. Nếu gây mê kéo dài thì làm tăng nhiễm độc với người bệnh làm cho quá trình hậu phẫu trở nên nặng nề (đặc biệt là những người già và những người có bệnh phổi phế quản mãn tính hoặc những người có bệnh lý gan thận, đái đường kèm theo).

gaymeRTV1

Mời các bạn xem tiếp toàn văn tại đây

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đặt mesh tiền phúc mạc điều trị thoát vị bẹn (TEP)

  • PDF.

Ths Bs Nguyễn Tải - Khoa Ngoại tổng hợp

Thoát vị bẹn là một bệnh lý ngoại khoa thường gặp ở các cơ sở phẫu thuật và có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị bệnh này. Tỉ lệ tái phát là một yếu tố quyết định cho việc chọn lựa phương pháp phẫu thuật. Đặt mảnh ghép qua mổ mở cho tỉ lệ tái phát thấp. Từ khi phẫu thuật cắt túi mật nội soi ra đời, cho đến nay phẫu thuật nội soi đã dần dần thay thế phẫu thuật mở trong nhiều loại phẫu thuật.

Phẫu thuật phục hồi thành bụng qua nội soi được thử nghiệm từ năm 1982 bởi Ger, đến năm 1989 được Bogajavalenski thực hiện trên người. Sau đó phẫu thuật này được các phẫu thuật viên thực hiện ngày càng nhiều và có nhiều cải tiến về kỹ thuật.

Hiện còn hai phương pháp mổ qua ngả nội soi là: phương pháp xuyên ổ bụng vào khoang tiền phúc mạc (TAPP: Transabdominal preperitoneal repair) và phương pháp ngoài phúc mạc (TEP: Total extraperitoneal repair). Phương pháp đầu có bất lợi là phải vào ổ bụng nên cần gây mê và có thể gây dính tạng về sau. Phương pháp ngoài phúc mạc giống như phương pháp mổ mở ngả tiền phúc mạc, nên phương pháp này cũng mổ được dưới gây tê vùng.  Từ thực tế trên, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài: “NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT ĐẶT MESH TIỀN PHÚC MẠC ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ BẸN (TEP)” với mục tiêu:

“Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi ngoài phúc mạc điều trị thoát vị bẹn ”.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 14 Tháng 10 2013 20:36

Nghiên cứu đối chiếu kết quả tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ và kết quả giải phẫu bệnh, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Bs Nguyễn Xuân Hiền - Khoa GPB

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định độ nhạy, dộ đặc hiệu và độ chính xác của xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu: Khảo sát trên 72 trường hợp có u và tổn thương dạng u, được làm xét nghiệm tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ, sau đó đối chiếu với kết quả mô bệnh học.

Kết quả:  Xét nghiệm chọc hút tế bào bằng kim nhỏ tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam có độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là: 81,8%, 96,7% và 94,4%. Tỉ lệ âm tính giả 18,2%, tỉ lệ dương tính giả 3,28%.

Kết luận: Xét nghiệm tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ là kỹ thuật đơn giản nhanh, ít tốn kém. Độ chính xác của xét nghiệm cao, giúp ích rất nhiều cho các nhà lâm sàng trong định hướng ban đầu và điều trị sau này cho bệnh nhân.

Xem tiếp tại đây

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 14 Tháng 10 2013 20:20

Đánh giá tình hình chăm sóc người bệnh điều trị hóa chất tại khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

  • PDF.

Nguyễn Thị Phước, Nguyễn Thị Kim Sau - Khoa Ung bướu

TÓM TẮT:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang 84 người bệnh điều trị hóa chất lần đầu tại khoa Ung bướu và 10 Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh. Kết quả: Đối tượng người bệnh: Nam  51,2%, nữ  48,8%; độ tuổi < 50 36,9%, từ 50-60 tuổi 23,8%, từ 61-70 tuổi 23,8% và trên 70 tuổi 15%;  nông dân 53,6%, cán bộ  3,6%, người già > 60 tuổi 39,25; khu vực nông thôn 78,5%, thành thị 16,7%, miền núi 4,8%; ung thư đại trực tràng 27,4%, ung thư dạ dày 17,9%, ung thư phổi 15,5%, ung thư vú 13,0%. Đối tượng Điều dưỡng: Trình độ trung cấp 80%, cao đẳng 20%; thâm niên trong nghề từ 3-5 năm 60%, từ 1-2 năm 40%. Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh hóa trị: ĐD nắm rõ y lệnh hóa chất 100%, có kiểm tra hạn sử dụng 81,8%, rửa tay thường quy 76,4%, xả dịch đảm bảo vô khuẩn đạt 94,5%, 89,1% số dịch còn đúng với y lệnh, 70,9% lấy thuốc hóa chất ngay sau khi mở lọ, 72,6% có tư vấn tác dụng phụ của hóa chất, 95,2% có ghi ngày lưu kim, 75% có hướng dẫn chế độ ăn uống.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Ung thư là căn bệnh ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh vô độ. Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài. Mỗi loại ung thư, mỗi giai đoạn ung thư có những phương pháp điều trị khác nhau: Điều trị phẫu thuật, xạ trị, điều trị hóa chất, điều trị miễn dịch...

Phương pháp điều trị hóa chất là phương pháp điều trị bằng thuốc nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư. Các thuốc này còn gọi là "Thuốc hóa chất" và thường là thuốc độc bảng A có độc tính cao. Mỗi loại ung thư có phác đồ điều trị riêng gồm một hay nhiều loại thuốc hóa chất kết hợp lại. Liều thuốc được tính chính xác theo diện tích da hoặc trọng lượng của cơ thể người bệnh. Thuốc hóa chất được điều trị theo từng đợt (chu kỳ), thường dùng qua tiêm truyền tĩnh mạch là chủ yếu, phác đồ điều trị thường nhiều đợt, thời gian điều trị kéo dài gây cho người bệnh mệt mỏi, đi lại nhiều dễ chán nản bỏ dỡ điều trị. Ngoài ra những tác dụng phụ của thuốc cũng ảnh hưởng tới thể chất và tinh thần của người bệnh.

ungb

Vì vậy kỹ thuật pha truyền thuốc hóa chất cũng như việc theo dõi chăm sóc của người điều dưỡng là vô cùng quan trọng. Thực hiện tốt chăm sóc người bệnh điều trị hóa chất sẽ giúp phát hiện sớm những diễn biến bất thường của người bệnh, hạn chế tai biến xảy ra, mang lại sự an toàn cho người bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Đánh giá tình hình chăm sóc người bệnh điều trị hóa chất tại khoa Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam, từ tháng 4/2012 đến tháng 9/2012" với 2 mục tiêu sau:

1. Nghiên cứu đặc điểm người bệnh điều trị hóa chất tại khoa Ung bướu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam

2. Đánh giá thực trạng chăm sóc người bệnh điều trị hóa chất tại khoa Ung bướu - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam.

Mời các bạn xem tiếp tại đây

You are here Đào tạo Đề tài NCKH