• Phone:0235.3851.429
  • Hotline:0964091919
  • Thông tin:

dieuhanhtructuyen

Đào tạo NCKH

Gây mê hồi sức trong nội soi tiêu hóa

  • PDF.

Khoa Gây mê phẫu thuật

I. ĐẶT VẤN ĐỀ : Thủ thuật nội soi đường tiêu hóa,với những máy nội soi mền, để chẩn đoán hay có can thiệp ngày càng thực hiện nhiều ở các cơ sở điều trị, thời gian thực hiện những thủ thuật này thông thường ngắn 5-10 phút cho những trường hợp đơn giản, thời gian kéo dài cho những trường hợp khó khăn có thể 1-2 giờ. Từ trước những thủ thuật này thường được thực hiện một cách tự nhiên không được hổ trợ về an thần và giảm đau nên gây cho người bệnh những cảm giác lo âu sợ hãi để lại những ấn tượng không thuận lợi khi phải chịu những thủ thuật này. Ngày nay được thực hiện dưới sự chăm sóc và giúp đỡ của Gây Mê Hồi Sức.

noisoitieuhoa

Hình minh họa

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 09 Tháng 4 2018 08:08

Đọc thêm...

Gia tăng mức độ hở van 2 lá sau khi đóng thông liên nhĩ

  • PDF.

Bs Nguyễn Tuấn Long-Khoa Nội tim mạch

Ca lâm sàng: Bệnh nhân nam 64 tuổi được chẩn đoán thông liên nhĩ. Kết quả siêu âm trước can thiệp, bệnh nhân có thông liên nhĩ kích thước lỗ 26mm, có dãn thất phải, hở vừa van 3 lá, áp lực động mạch phổi tâm thu 40mmHg, kèm theo mức độ hở nhẹ van 2 lá (1/4). Bênh nhân dược can thiệp bít lỗ thông liên nhĩ với dù kích thước 32mm. Sau 1 tháng tái khám, biểu hiện lâm sàng bệnh nhân ổn định, siêu âm kiểm tra ghi nhân dù thông liên nhĩ ở vị trí tốt, không có biểu hiện cánh dù chạm các cấu trúc xung quanh, tuy nhiên, mức độ hở 2 lá tăng lên mức độ 3/4.

Bàn luận: Sau khi thông liên nhĩ được bít, tình trạng quá tải thể tích ở tuần hoàn phổi được cải thiện, tuy nhiên, sự tăng gánh thất trái sẽ làm cho mức độ hở hai lá trở nên nặng hơn. Theo nghiên cứu của Yoichi Takaya và cộng sự công bố năm 2015 trên 288 bệnh nhân được can thiệp bít thông liên nhĩ, 1 tháng sau khi được can thiệp, tình trạng hở van hai lá cải thiện ở 3 bệnh nhân, 253 bệnh nhân không thay đổi, tuy nhiên, có đến 32 trường hợp tình trạng hở trở nên nặng hơn. Trong theo dõi 24 tháng tiếp theo, các bệnh nhân có hở van hai lá nặng lên không thấy xuất hiện các biến cố tim mạch, cũng như sự khác biệt về thời gian sống ở giữa 3 nhóm bệnh nhân (hở nặng hơn, hở cải thiện, không thay đổi) (p=0.335). Thậm chí đối với những BN có mức độ hở hai lá nặng hơn, chức năng tim đánh giá theo thang  điểm NYHA cũng cải thiện sau can thiệp, và không có trường hợp nào xấu đi. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy mức độ hở hai lá nặng lên liên quan độc lập với tuổi và giới nữ. Mức độ giãn vòng van sau can thiệp ở những bệnh nhân có mức độ hở nặng hơn là lớn hơn so với 2 nhóm bệnh nhân còn lại. Nghiên cứu đưa ra kết luận, mức độ hở hai lá nặng hơn xuất hiện ở một số ít bệnh nhân trưởng thành được can thiệp bít thông liên nhĩ, tuy nhiên, nó không ảnh hưởng đến các biến chứng sau can thiệp. Nguyên nhân của sự tăng cường độ hở hai lá có liên quan đến sự thây đổi cấu trúc của vòng van, đặc biệt ở những bệnh nhân nữ lớn tuổi.

Hình 1: Mình họa cơ chế bệnh sinh của khởi phát hoặc tăng mức độ hở hai lá sau khi bít thông liên nhĩ. Trước phẫu thuật (A), vách liên thất cuối tâm trương lệch sang trái với tình trạng hở 3 lá. Sau phẫu thuật (B), vách liên thất lệch sang phải cuối tâm trương với tình trạng hở 2 lá. (TV: van 3 lá; MV: van 2 lá; ASD: thông liên nhĩ)

tln

Đọc thêm...

Ung thư vùng đầu và cổ (P.1)

  • PDF.

Bs Nguyễn Duy Phi Hiệp - Khoa Ung bướu

1. Dịch tễ học:

Tỷ lệ mắc mới ung thư tế bào vảy vùng đầu và cổ là hơn 500000 ca /năm trên toàn thế giới, và từ 40000 đến 60000 ca /năm ở Mỹ, chiếm khoảng 3-5 % tổng số ca mắc mới ung thư và 2% tỷ lệ chết do ung thư.

Phần lớn gặp ở bệnh nhân lớn hơn 50 tuổi và tỷ lệ mắc mới gia tăng theo độ tuổi.

Tỷ lệ Nam: Nữ là từ 2:1 đến 5:1.

Người da đen có nguy cơ mắc bệnh cao hơn và tỷ lệ sống còn giữa người Mỹ gốc Phi thì thấp hơn người da trắng.

90% ung thư loại này là ung thư tế bào vảy. Vị trí thường gặp nhất ở Mỹ là khoang miệng, hầu họng, thanh quản, hạ họng. Ung thư hốc mũi, má, xoang cánh mũi, tuyến nước bọt, các Sarcoma khác, lymphoma, melanoma thì hiếm gặp hơn.

KDAU

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 31 Tháng 3 2018 12:16

Đọc thêm...

Quy trình thông khí nhân tạo tư thế nằm sấp trong tổn thương phổi cấp (ARDS) mức độ nặng

  • PDF.

Bs Trần Vũ Kiệt - Khoa HSTC-CĐ

Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) là một tình trạng bệnh lý nặng nề, tiến triển nhanh. Tỷ lệ tử vong chung từ 30 - 60%, trong đó tử vong ở nhóm bệnh nhân nặng là 80%. Bệnh biểu hiện với đặc trưng là tổn thương lan tỏa màng phế nang mao mạch gây nên tình trạng giảm oxy máu trơ kéo dài. Phương pháp thông khí nhân tạo (TKNT) tư thế nằm sấp trong điều trị bệnh nhân ARDS được Piehl áp dụng từ năm 1976. Nhiều nghiên cứu sau đó cho rằng TKNT tư thế nằm sấp có tác dụng làm cải thiện oxy máu từ 70 - 80% các trường hợp. Cho đến nay thì cơ chế tác dụng của tư thế nằm sấp vẫn chưa được biết rõ nhưng hầu hết các nhà nhiên cứu đều cho rằng ngoài tác dụng tăng oxy máu thì tư thế nằm sấp còn làm giảm tổn thương phổi do thở máy. Nghiên cứu của Guerin đã chứng minh TKNT tư thế nằm sấp làm giảm thời gian thở máy, thời gian nằm viện và giảm tỷ lệ tử vong từ 32,8% xuống 16%. Tuy nhiên cần áp dụng sớm trong vòng 24 giờ và trên các bệnh nhân nặng có PaO2/FiO2 ≤ 150 mmHg.

tkntards

Lần cập nhật cuối lúc Thứ bảy, 31 Tháng 3 2018 09:40

Đọc thêm...

Phục hồi chức năng bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ

  • PDF.

KTV Ninh Thị Trọng Cảnh - Khoa PHCN

I. Định nghĩa:

Thoái hóa đốt sống cổ hay còn gọi là thoái hóa cột sống cổ hoặc thoái hóa cột sống lưng là một trong những tên gọi của tình trạng bệnh lý thoái hóa hệ thống xương cột sống do nhiều nguyên nhân khác nhau trong công việc, lao động, hoạt động, tuổi tác. Nó là quá trình bệnh lý ở các đốt sống cổ, bắt đầu bằng những hiện tượng hư khớp ở các diện thân đốt, đĩa liên đốt tới các màng, dây chằng, dần dần về sau xuất hiện hiện tượng thoái hóa các đốt sống, gây đau vùng cổ, nhất là khi vận động vùng cổ.
Thoái hóa cột sống cổ là một trong những căn bệnh phổ biến của xã hội. Thoái hóa đốt sống cổ và lưng không chỉ ở những người già mà còn ở cả những người trẻ thường làm việc trong văn phòng, ít vận động hoặc phải cúi nhiều là bệnh thường gặp ở những người phải sử dụng nhiều động tác ảnh hưởng đến vùng đầu cổ. Các dấu hiệu điển hình của bệnh có thể dễ nhận thấy là cổ cứng nhắc khó xoay chuyển kèm với dấu hiệu đau, đau cổ sau đó lan xuống vai, đau ở các khớp cổ và vai, ngoài ra còn đau đầu không rõ nguyên nhân… Thoái hóa đốt sống cổ gây ra nhiều khó khăn trong sinh hoạt và lao động cho người bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh đều gặp cả hai giới nam và nữ gần như ngang nhau.

Đọc thêm...

You are here Đào tạo